Nửa cuối năm 1950, Đảng cùng Sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đã cải cách chữ Hán phồn thể tiếng Trung Quốc thành chữ giản thể tiếng Trung Quốc trên quy mô to. Chính thành ra, các người sinh ra từ sau thập niên 60 đã không thể đọc hiểu được những thư tịch cổ, và tạo ra sự đứt gãy văn hóa truyền thống. Nền văn hóa Trung Quốc mấy ngàn năm đã bị mai một, thay vào chậm tiến độ là sự đa dạng rộng rãi của văn hóa ĐCSTQ.
Chữ giản thể tiếng Trung Quốc bỏ bộ "tâm" (màu đỏ) ra khỏi chữ Yêu, tức thị Yêu không có trái tim?
Mỗi chữ Hán cổ là tiện sinh mệnh hoàn chỉnh, ngừng thi côngĐây là sự kết tinh của các bối cảnh văn hóa, quá trình lớn mạnh lịch sử và kinh nghiệm thị trấn hội trong suốt chặng tuyến phố trưởng thành của một dân tộc. Bước vào thế giới chữ Hán, ta sẽ chứng kiến được những tri thức chưng đại tinh thâm giống như 1 viện bảo tồn lịch sử. bên cạnh đó, chữ giản thể tiếng Trung Quốc thì chỉ giống như một kí hiệu, nhìn thì có vẻ tiện lợi mau chóng, nhưng, thực chất lại là một thứ tàn khuyết bất toàn, giản mà ko tinh. Đã vậy còn phá hoại luôn nội hàm của một hệ thống văn tự.
cộng với việc giản hóa chữ Hán, văn hóa truyền thống bị bỏ rơi, đạo đức suy thoái, xã hội hỗn loàn, con người thiển cận. ngày nay, tại Trung Quốc chữ giản thể được tiêu dùng phổ biến, và cũng là thứ ký hiệu trình bày rõ nhất khuân mặt phường hội Trung Quốc đương thời.
ví dụ, chữ Thân 親 tức thân thích, thân hữu. Gồm bộ tân 辛 bên trái, và chữ kiến 見 bên phải, hàm nghĩa của bộ tân tức thị vị cay, biểu trưng cho sự gian khổ, kiến nghĩa là gặp mặt, trông thấy nhau; cho dù trong khi cạnh tranh nhất, những người nhà vẫn với thể luôn ở bên cạnh và hỗ trợ lẫn nhau, vẫn luôn viếng thăm và giữ được tình cảm khắn khít. Chữ giản thể tiếng Trung Quốc đã bỏ mất đi chữ kiến chỉ còn lại bộ tân, anh em, vợ chồng,cha con vì bước trục đường mưu sinh gian khổ đã ko còn nhìn mặt nhau nữa.
Hương 郷「hương 」thay đổi thành乡 mất đi「lang」「郎」 (đàn ông , chồng). Ở nông thôn Trung Quốc hiện nay các tuổi teen rời xa nhà, đi đến các thị thành làm cho việc, chỉ còn lại những đứa trẻ và người cao tuổi.
Ái「愛」ý nghĩa là tình yêu, gồm bộ tâm 心 (con tim) và chữ thụ 受 (chịu đựng), ái tình hải quan là sự ưng ý và tự nguyện hi sinh. Chữ giản thể tiếng Trung Quốc đổi thành 爱, mất đi chữ tâm (trái tim). trở thành tình cảm (tình yêu) nông cạn bên ngoài ko mang con tim.
Tiến 進 (tiến lên) gồm bộ sước 辶 (bước chân) và chữ giai 佳 (tốt đẹp), đổi thay thành 进, Chữgiai đổi thay thành bộ tỉnh「井」(cái giếng), tức " bước chân đi vào giếng" cũng chính là tự hủy diệt mình.
Thính「聴」(nghe) gồm bộ nhĩ 耳 bên trái, chỉ cái tai; bên phải là chữ thập 十 (số mười) phiếm chỉ số rộng rãi, chữ mục目 (con mắt) và rốt cuộc là tâm 心 (con tim), người ta phải nghe bằng tai, nhìn nhận rộng rãi lần bằng mắt và suy xét bằng nội tâm. Chữ giản thể tiếng Trung Quốc đã đổi lại thành 听 gồm chữkhẩu 口 (cái miệng) và cân 斤 (cái rìu). Người ta không nghe bằng lỗ tai, ko nhìn nhận bằng mắt và suy xét bằng trái tim; họ chỉ biết dùng miệng để tranh cãi và tiêu dùng vũ khí để giải quyết mâu thuẫn.
Sỉ 恥 (liêm sỉ, xấu hổ) gồm bộ nhĩ 耳 (tai) và chữ tâm 心 (con tim). Người ta phải hướng nội, lắng tai ngôn ngữ của lương tri, liêm sỉ bên trong mình để biết hổ hang lúc làm cho việc xấu xa. Chữ giản thể tiếng Trung Quốc lại thay đổi thành 耻 gồm bộ nhĩ 耳 (tai) và chữ 止 (dừng lại), người ta chỉ biết nghe rồi để chậm triển khai, chứ không tự suy xét chính lương tâm của mình.
Mãi 買 tức tìm bán, gồm hai bộ khẩu 口 ở phía trên trình bày sự đàm phán, mà cả giữa bên tậu và bán; còn bộ bối (vỏ sò) ở phía dưới biểu trưng cho tiền tệ (người xưa dùng vỏ sò như 1 dạng tiền tệ) đổi thay thành 「买」gồm nửa bộ mịch 冖 ở trên (có tức thị trùm kín, bịt) ở dưới là bộ đầu 头 (cái đầu), về thực chất việc tậu bán là phải sử dụng tiền nong nhưng ở đây lại giống như sự che đậy, bịt mồm và cướp giật tài sản.
Ưu 優 với ý nghĩa ưu tú, gồm bộ nhân 人 bên trái chỉ người và chữ ưu 憂 ở bên phải với ý nghĩa tư lự, người xuất chúng ưu tú phải biết lo trước chiếc lo của trần gian, vui sau loại vui của dương thế. Chữ này đã đồi thành 优. Chữ ưu mang nghĩa tư lự đã bị đổi thành chữ vưu 尤 tức sự kỳ lạ, dị thường, nổi bật; người thời nay sở hữu tí đỉnh nhân kiệt liền huênh hoang thể hiện để thỏa mãn phong cách của mình chứ ko còn chú ý đến việc phụng sự quốc gia, dân tộc.
Đạo導 sở hữu ý nghĩa là dẫn các con phố, bên trên là chữ đạo 道 nghĩa là tuyến phố lớn, hàm nghĩa này còn chỉ đạo lý của vũ trụ và nhân sinh, bên dưới là chữ thốn 寸 (độ dài bằng chiều rộng của 2 ngón tay chập lại) một trong các đơn vị đo độ dài nhỏ nhất của người Trung Quốc cổ. Người dẫn đường phải thông tỏ đạo lý, trên mỗi bước chân từng phải cân nói đến đạo lý từng chút 1, như thế mới ko bị nhầm nhỡ. Chữ giản thể tiếng Trung Quốc đổi chữ đạo thành bộ tỵ 巳 ở phía trên, ứng sở hữu con rắn trong 12 địa chi, lẽ nào lãnh đạo là phải bước theo vết bò của rắn rết?
Trong chữ Hán tiếng Trung Quốc phồn thể chữ dược 藥 có tức là thuốc bên trên là bộ thảo sở hữu hình trạng 艸…, là tượng trưng cho thảo mộc, cỏ cây, dược chất mà người xưa tiêu dùng đều là cây cỏ. Ở dưới là chữlạc 樂 nghĩa là niềm vui. cơ thể mang bệnh khó chịu cực kỳ, sau lúc sử dụng thuốc thì cơ thể trở nên thả sức, thân tâm an lạc. chậm triển khai là hàm nghĩa của chữ dược 藥. Chữ dược giản thể tiếng Trung Quốc药 vẫn giữ nguyên bộ thảo ở bên trên, nhưng chữ lạc 樂 ở dưới lại bị đổi thành chữ ước 約, tức thị ước thúc, trói buộc, gò bó,… hoàn toàn ko giống có ý nghĩa ban đầu.
Chữ giản thể tiếng Trung Quốc vốn cầu sự tinh giản mà bỏ mất nội hàm, cầu lấy sự mau chóng ở bề mặt mà bỏ mất chiều sâu trong ý nghĩa, thậm chí tương phản. tuy nhiên cũng mang những chữ Hán ko đổi thay, phần nhiều là những chữ có hàm nghĩa xấu. thí dụ như ma (ma quỷ) 魔 thì vẫn là 魔, qủy 鬼 thì vẫn là 鬼,phiến 騙(lừa gạt) thì vẫn là騙,tham 貪 thì vẫn là 貪, độc 毒 thì vẫn là 毒,dâm 淫 thì vẫn là 淫,đổ 賭 (cờ bạc) thì vẫn là 賭.
những điều rẻ đẹp thì cắt mất, những thứ xấu xa giữ còn tồn tại. sở hữu thể đề cập những trong khoảng http://tinhhoa.net/ giản thể tiếng Trung Quốc đang mô tả cảnh ngộ phường hội Trung Quốc hiện đại khôn xiết chính xác.
Từ khóa: tieng Trung Quoc
Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017
Thứ Ba, 5 tháng 9, 2017
Vị Đạo Sĩ Tu Luyện 300 Năm Ở Núi Sâu Kể Về Bí Ẩn Về Công Năng Đặc Dị
Trên dương gian này mang còn đó các người tu đạo, đặc trưng trong những núi sâu rừng già, họ đã từng sống rất lâu, với người đã sống mấy trăm năm, thậm chí mấy nghìn năm. Điều này kể ra mang thể phổ quát người sẽ ko tin nổi … Dưới đây là câu chuyện được đề cập lại của một người như vậy.
trước hết xin được kể rõ, bài viết này chẳng hề là câu chuyện hư cấu. các gì được viết được nói, hoàn toàn đều là các trải nghiệm chân thật, cảm ngộ chân http://minhbao.net/ thật của bản thân tôi. các vị có thể tin, cũng có thể ko tin, nhưng mong các vị hãy tu tích khẩu đức, đừng với tạo nghiệp chướng cho bản thân mình.
những người thông thường nhìn thấy "300 năm" trong tiêu đề, nhất quyết sẽ cho rằng tôi đang nói phét, nhưng tôi xin nhắc với những vị rằng, tuổi thật sự của tôi chính xác là 330 tuổi, cũng chính là nhắc rằng tôi sinh ra vào giữa các năm Khang Hy triều đại nhà Thanh. Kỳ thật, 330 tuổi cũng không thể đề cập là rất già, các người hơn hai.000 tuổi tôi đều đã đích thân gặp qua, nghe đề cập còn mang các người sống trên 5.000 tuổi ở dương thế, chỉ là không có dịp gặp được mà thôi.
Tôi là người Thành Đô, tỉnh giấc Tứ Xuyên, giữa các năm Ung Chính, vì để giảm thiểu chiến loạn, Anh chị chúng tôi chạy nạn đến núi Đại Ba, miền bắc thức giấc Tứ Xuyên, nhưng ko may gặp phải lở đất, rốt cuộc chỉ mang 1 mình tôi may mắn thoát được, năm ngừng thi côngĐây tôi 30 tuổi. Về sau tôi bị lạc tuyến phố trong núi, tự mình đã đi lang thang trong suốt mười mấy ngày liền, ngay chính vào khi gần bị đói chết, một vị Đạo sĩ đã cứu sống tôi. Vị Đạo sĩ này chính là sư phụ của tôi sau này, khi chậm tiến độ ông đã ở trong núi Đại Ba tu luyện hơn 700 năm. từ chậm triển khai, tôi liền đi theo ông bắt đầu tu luyện. Ở đây cần phải đề cập rõ, tôi và sư phụ tuy đều là Đạo sĩ, tu luyện Pháp môn Tam Thanh, nhưng chúng tôi không hề là Đạo giáo, không mang một tí quan hệ gì có Đạo giáo cả.
Sư phụ của tôi là người của triều đại nhà Đường, tuy đã tu luyện hơn 700 năm rồi, nhưng ông nhìn còn trẻ hơn tôi lúc ngừng thi côngĐây đa dạng. Bởi ông đã tu luyện tới rốt cuộc rồi, dù có quyết tâm thế nào cũng không tu luyện lên trên được nữa, vậy nên đã thu tôi làm cho môn đệ, truyền thừa Đạo chính thống trong môn tu luyện này của chúng tôi. Mọi người nhất thiết sẽ không nghĩ được rằng, công pháp tu luyện trong môn này của chúng tôi, vô cùng vô cộng thuần tuý, đặc trưng phù hợp cho những người lười nhác, bởi vì công pháp của chúng tôi chính là ngủ.
Sau lúc sư phụ truyền công pháp tu luyện cho tôi xong, lần đầu tiên tôi đã ngủ hơn một tháng, sau khi tỉnh dậy cơ thể sở hữu các biến đổi rất to, rất nhiều đã thay đổi thành 1 người khác vậy, khỏe mạnh hơn trước đây tất cả. Sau ngừng thi côngĐây, ông lại bảo tôi đọc "Đạo Đức Kinh", đọc xong kinh thơ lại đi ngủ. Cứ ko giới hạn đọc kinh thư, nằm ngủ như vậy, 1 lần dài nhất, tôi đã ngủ 1 giấc hơn hai năm. Cứ lặp đi lặp lại không giới hạn như vậy, 1 mạch tu luyện đến hơn 60 năm, rút cục tôi đã đạt đến cảnh giới tiểu thặng (thiên mục đã mở, đại chu thiên đầy đủ đều đã được đả thông). lúc này tôi đã tu luyện được nhiều công năng đặc dị, ví như tịch cốc (nhịn ăn nhịn uống mà ko mệt mỏi), thuật ban vận, đi lại trên không, tha tâm thông, thấu thị nhân thể, v.v….Cũng phải đề cập thêm, đề cập kể từ khởi đầu tu luyện, tướng mạo của tôi như giới hạn lại ở tuổi 30, mãi cho tới tận hôm nay cũng ko sở hữu bất cứ sự đổi thay gì.
Tu luyện đến cảnh giới tiểu thừa, sư phụ bảo tôi trở lại cõi người đi vân du. Sư phụ nhắc, ví như tôi chìm đắm vào lợi danh thanh sắc, bị thế giới phồn hoa làm mờ mắt, thì ko cần trở về núi tu luyện nữa, tôi mang thể tự mình chọn trục đường sau này. giả dụ sau 3 năm, tôi vẫn ko bị sa ngã, thì hãy trở về núi Đại Ba tu luyện, ông sẽ chỉ đạo tôi tiếp tục tu luyện công pháp tiếp theo.
Vân du ở bên ngoài rất khổ, quy định cũng đa dạng. Thứ nhất, trong thế gian không được sử dụng bất kể công năng đặc dị nào, trước khi xuống núi sư phụ đã khóa hết công năng của tôi, bao gồm cả tịch cốc, bởi chỉ cần khoảng vân du, tôi tự mình nghĩ cách thức giải quyết vấn đề ăn uống. Thứ 2, ko được đụng tới tiền bạc, chỉ có thể phê duyệt phương thức xin ăn để với được thức ăn. Thứ ba, còn có hầu hết pháp giới, ăn cắp, tà dâm, uống rượu, v.v….giống như các quy định trong Phật giáo. Sư phụ mang thể sử dụng thiên nhãn thông giám sát tôi mọi lúc mọi nơi, nếu như tôi phạm phải bất cứ quy định nào, thì sẽ ko còn có cơ hội đi theo sư phụ tu luyện nữa.
Sau khi rời khỏi núi Đại Ba, tôi trước hết đi đến Vị Nam vùng Thiểm Tây, sau chậm triển khai lại đi Đồng Quan. Ở Đồng Quan, tôi cuối cùng đã phải tự giải quyết vấn đề ăn uống. Bởi vì tướng mạo của tôi là một người đàn ông khỏe mạnh của tuổi 30, xin ăn khôn xiết khó khăn, thường hay bị mắng, chẳng có mấy người nào đồng ý bố thí cho tôi cả. Ở Đồng Quan tôi đã làm thuê cho 1 nhà địa chủ họ Lưu, chỉ cần có chỗ ăn chỗ ngủ, không cần tiền công. Địa chủ rất lấy làm cho vui mừng, cũng đồng ý với tôi. Tôi cũng không mang tâm trạng muốn đi những nơi khác, ở nhà địa chủ họ Lưu, thái bình trải qua 3 năm, rất may là không sở hữu phạm giới nào cả, thời hạn 3 năm đã hết, tôi lại trở về núi Đại Ba, kế bên sư phụ.
những tháng ngày sau này chính là không giới hạn tu luyện, cứ phương pháp 35 năm một lần, đều sẽ phải xuống núi vân du mấy năm, mang những khi sư phụ sẽ cùng đi vân du có tôi, khi chậm tiến độ tôi không có cách nào làm cho biếng nữa, chẳng thể sống thanh thản như ở nhà Lưu địa chủ nữa, mà mỗi ngày đểu cần phải ra ngoài xin ăn. Vân du nhiều năm tương tự, hết thảy chua ngọt đắng cay, phong ba bão tố của cõi tục đều đã trải qua hết cả, nhưng ý chí tu luyện của tôi trước sau không hề bị lay dộng. Đối có các thay đổi triều đại, thế sự biến hóa của cõi trần, chúng tôi xưa nay đều ko can thiệp, bao gồm cả các tai nạn và chiến tranh kia, chúng tôi sớm muộn không phải quản. Vì những thứ này đều là có định số, người nào loạn động, thì người ngừng thi côngĐây sẽ phải lãnh tai ương.
Tôi biết trong cõi trần mang tất cả rất đa dạng người mang hứng thú với tu Đạo, nhưng họ không rõ được rằng tu Đạo cần phải chịu chứa đông đảo loại khổ, phải trải qua bao nhiêu dày vò và ma nạn. Chỉ pha mấy ấm trà, hứa vài người bạn, ngồi mà luận đạo, chậm tiến độ ko phải là tu luyện, mà là ngơi nghỉ. Tu luyện thật sự, là phải trải qua số đông loại khổ.
Sau khi tu luyện hơn 200 năm, kể một phương pháp chính xác là một năm trước lúc triều đại nhà Thanh sụp đổ, sư phụ của tôi khuất, trong khoảng chậm triển khai về sau môn phái tu luyện của chúng tôi chỉ còn lại một mình tôi. mục tiêu sau hết của tu Đạo chính là đắc Đạo thành Tiên, để sở hữu được sự vĩnh hằng của sinh mệnh, nhưng pháp môn tu luyện này của chúng tôi cao nhất chỉ mang thể tu tới "ngũ khí triều thiên", bí quyết trường thọ bất lão vẫn còn một quãng rất xa. Sau lúc sư phụ chết thật, thi hài ông chẳng hề bị mục nát, tôi đem nó bảo tàng trong một ngôi miếu cũ ở Hán Trung, về sau nơi này bị chiến tranh phá hủy, nhục thân của sư phụ cũng bị hủy luôn trong chậm tiến độ. Thực ra, đây cũng ko mang gì phải nhớ tiếc cả, chẳng qua chỉ là 1 lớp da giết mổ mà thôi.
Sau khi sư phụ mất, tôi phải độc tu 1 mình. Đối có một người tu luyện đơn độc mà nhắc, chiếc khổ lớn nhất, chính là cô quạnh quẽ và đơn độc. có các lúc ngồi thiền 1 năm, sau khi xuất định được mấy ngày rồi lại nhập định tiếp, mười mấy năm ko thấy một bóng người, ko kể 1 lời nào là chuyện rất bình thường. Vì để giải quyết đơn chiếc buồn tẻ, tôi thích đi vân du, bắt đầu từ năm 1960, tôi vừa đi vân du vừa tiếp diễn việc tu luyện của mình.
Đợi đến măn 1988, cái năm xảy ra vụ hỏa hoạn to ở núi Đại Hưng An, tôi rốt cục đã tu luyện đến cảnh giới cao nhất trong môn của chúng tôi là "ngũ khí triều thiên". lúc này, công năng đặc dị của tôi, đã đạt tới cao độ trước nay chưa từng có, trên căn bản các công năng mà bạn từng nghe kể thì tôi đều sở hữu hết cả, hơn nữa công lực tăng trưởng, hoàn toàn ko phải là thứ mà các người có công năng đặc dị trên thế gian kia với thể so sánh được. Hơn nữa trong khoảng ngừng thi côngĐây về sau, những khi vân du, tôi có thể không còn cần phải tuân thủ pháp giới nữa, công năng đặc dị cũng có thể sự dụng tùy ý rồi, nhưng điều kiện trước tiên là không được phép can thiệp vào bất cứ sự tình nào của thiên hạ con người, dẫu cho là 1 việc nhỏ rất là vụn vặt cũng ko được, ví như không sẽ gặp phải báo ứng, hoặc công năng bị mất đi.
Từ khóa: tu luyen
trước hết xin được kể rõ, bài viết này chẳng hề là câu chuyện hư cấu. các gì được viết được nói, hoàn toàn đều là các trải nghiệm chân thật, cảm ngộ chân http://minhbao.net/ thật của bản thân tôi. các vị có thể tin, cũng có thể ko tin, nhưng mong các vị hãy tu tích khẩu đức, đừng với tạo nghiệp chướng cho bản thân mình.
những người thông thường nhìn thấy "300 năm" trong tiêu đề, nhất quyết sẽ cho rằng tôi đang nói phét, nhưng tôi xin nhắc với những vị rằng, tuổi thật sự của tôi chính xác là 330 tuổi, cũng chính là nhắc rằng tôi sinh ra vào giữa các năm Khang Hy triều đại nhà Thanh. Kỳ thật, 330 tuổi cũng không thể đề cập là rất già, các người hơn hai.000 tuổi tôi đều đã đích thân gặp qua, nghe đề cập còn mang các người sống trên 5.000 tuổi ở dương thế, chỉ là không có dịp gặp được mà thôi.
Tôi là người Thành Đô, tỉnh giấc Tứ Xuyên, giữa các năm Ung Chính, vì để giảm thiểu chiến loạn, Anh chị chúng tôi chạy nạn đến núi Đại Ba, miền bắc thức giấc Tứ Xuyên, nhưng ko may gặp phải lở đất, rốt cuộc chỉ mang 1 mình tôi may mắn thoát được, năm ngừng thi côngĐây tôi 30 tuổi. Về sau tôi bị lạc tuyến phố trong núi, tự mình đã đi lang thang trong suốt mười mấy ngày liền, ngay chính vào khi gần bị đói chết, một vị Đạo sĩ đã cứu sống tôi. Vị Đạo sĩ này chính là sư phụ của tôi sau này, khi chậm tiến độ ông đã ở trong núi Đại Ba tu luyện hơn 700 năm. từ chậm triển khai, tôi liền đi theo ông bắt đầu tu luyện. Ở đây cần phải đề cập rõ, tôi và sư phụ tuy đều là Đạo sĩ, tu luyện Pháp môn Tam Thanh, nhưng chúng tôi không hề là Đạo giáo, không mang một tí quan hệ gì có Đạo giáo cả.
Sư phụ của tôi là người của triều đại nhà Đường, tuy đã tu luyện hơn 700 năm rồi, nhưng ông nhìn còn trẻ hơn tôi lúc ngừng thi côngĐây đa dạng. Bởi ông đã tu luyện tới rốt cuộc rồi, dù có quyết tâm thế nào cũng không tu luyện lên trên được nữa, vậy nên đã thu tôi làm cho môn đệ, truyền thừa Đạo chính thống trong môn tu luyện này của chúng tôi. Mọi người nhất thiết sẽ không nghĩ được rằng, công pháp tu luyện trong môn này của chúng tôi, vô cùng vô cộng thuần tuý, đặc trưng phù hợp cho những người lười nhác, bởi vì công pháp của chúng tôi chính là ngủ.
Sau lúc sư phụ truyền công pháp tu luyện cho tôi xong, lần đầu tiên tôi đã ngủ hơn một tháng, sau khi tỉnh dậy cơ thể sở hữu các biến đổi rất to, rất nhiều đã thay đổi thành 1 người khác vậy, khỏe mạnh hơn trước đây tất cả. Sau ngừng thi côngĐây, ông lại bảo tôi đọc "Đạo Đức Kinh", đọc xong kinh thơ lại đi ngủ. Cứ ko giới hạn đọc kinh thư, nằm ngủ như vậy, 1 lần dài nhất, tôi đã ngủ 1 giấc hơn hai năm. Cứ lặp đi lặp lại không giới hạn như vậy, 1 mạch tu luyện đến hơn 60 năm, rút cục tôi đã đạt đến cảnh giới tiểu thặng (thiên mục đã mở, đại chu thiên đầy đủ đều đã được đả thông). lúc này tôi đã tu luyện được nhiều công năng đặc dị, ví như tịch cốc (nhịn ăn nhịn uống mà ko mệt mỏi), thuật ban vận, đi lại trên không, tha tâm thông, thấu thị nhân thể, v.v….Cũng phải đề cập thêm, đề cập kể từ khởi đầu tu luyện, tướng mạo của tôi như giới hạn lại ở tuổi 30, mãi cho tới tận hôm nay cũng ko sở hữu bất cứ sự đổi thay gì.
Tu luyện đến cảnh giới tiểu thừa, sư phụ bảo tôi trở lại cõi người đi vân du. Sư phụ nhắc, ví như tôi chìm đắm vào lợi danh thanh sắc, bị thế giới phồn hoa làm mờ mắt, thì ko cần trở về núi tu luyện nữa, tôi mang thể tự mình chọn trục đường sau này. giả dụ sau 3 năm, tôi vẫn ko bị sa ngã, thì hãy trở về núi Đại Ba tu luyện, ông sẽ chỉ đạo tôi tiếp tục tu luyện công pháp tiếp theo.
Vân du ở bên ngoài rất khổ, quy định cũng đa dạng. Thứ nhất, trong thế gian không được sử dụng bất kể công năng đặc dị nào, trước khi xuống núi sư phụ đã khóa hết công năng của tôi, bao gồm cả tịch cốc, bởi chỉ cần khoảng vân du, tôi tự mình nghĩ cách thức giải quyết vấn đề ăn uống. Thứ 2, ko được đụng tới tiền bạc, chỉ có thể phê duyệt phương thức xin ăn để với được thức ăn. Thứ ba, còn có hầu hết pháp giới, ăn cắp, tà dâm, uống rượu, v.v….giống như các quy định trong Phật giáo. Sư phụ mang thể sử dụng thiên nhãn thông giám sát tôi mọi lúc mọi nơi, nếu như tôi phạm phải bất cứ quy định nào, thì sẽ ko còn có cơ hội đi theo sư phụ tu luyện nữa.
Sau khi rời khỏi núi Đại Ba, tôi trước hết đi đến Vị Nam vùng Thiểm Tây, sau chậm triển khai lại đi Đồng Quan. Ở Đồng Quan, tôi cuối cùng đã phải tự giải quyết vấn đề ăn uống. Bởi vì tướng mạo của tôi là một người đàn ông khỏe mạnh của tuổi 30, xin ăn khôn xiết khó khăn, thường hay bị mắng, chẳng có mấy người nào đồng ý bố thí cho tôi cả. Ở Đồng Quan tôi đã làm thuê cho 1 nhà địa chủ họ Lưu, chỉ cần có chỗ ăn chỗ ngủ, không cần tiền công. Địa chủ rất lấy làm cho vui mừng, cũng đồng ý với tôi. Tôi cũng không mang tâm trạng muốn đi những nơi khác, ở nhà địa chủ họ Lưu, thái bình trải qua 3 năm, rất may là không sở hữu phạm giới nào cả, thời hạn 3 năm đã hết, tôi lại trở về núi Đại Ba, kế bên sư phụ.
những tháng ngày sau này chính là không giới hạn tu luyện, cứ phương pháp 35 năm một lần, đều sẽ phải xuống núi vân du mấy năm, mang những khi sư phụ sẽ cùng đi vân du có tôi, khi chậm tiến độ tôi không có cách nào làm cho biếng nữa, chẳng thể sống thanh thản như ở nhà Lưu địa chủ nữa, mà mỗi ngày đểu cần phải ra ngoài xin ăn. Vân du nhiều năm tương tự, hết thảy chua ngọt đắng cay, phong ba bão tố của cõi tục đều đã trải qua hết cả, nhưng ý chí tu luyện của tôi trước sau không hề bị lay dộng. Đối có các thay đổi triều đại, thế sự biến hóa của cõi trần, chúng tôi xưa nay đều ko can thiệp, bao gồm cả các tai nạn và chiến tranh kia, chúng tôi sớm muộn không phải quản. Vì những thứ này đều là có định số, người nào loạn động, thì người ngừng thi côngĐây sẽ phải lãnh tai ương.
Tôi biết trong cõi trần mang tất cả rất đa dạng người mang hứng thú với tu Đạo, nhưng họ không rõ được rằng tu Đạo cần phải chịu chứa đông đảo loại khổ, phải trải qua bao nhiêu dày vò và ma nạn. Chỉ pha mấy ấm trà, hứa vài người bạn, ngồi mà luận đạo, chậm tiến độ ko phải là tu luyện, mà là ngơi nghỉ. Tu luyện thật sự, là phải trải qua số đông loại khổ.
Sau khi tu luyện hơn 200 năm, kể một phương pháp chính xác là một năm trước lúc triều đại nhà Thanh sụp đổ, sư phụ của tôi khuất, trong khoảng chậm triển khai về sau môn phái tu luyện của chúng tôi chỉ còn lại một mình tôi. mục tiêu sau hết của tu Đạo chính là đắc Đạo thành Tiên, để sở hữu được sự vĩnh hằng của sinh mệnh, nhưng pháp môn tu luyện này của chúng tôi cao nhất chỉ mang thể tu tới "ngũ khí triều thiên", bí quyết trường thọ bất lão vẫn còn một quãng rất xa. Sau lúc sư phụ chết thật, thi hài ông chẳng hề bị mục nát, tôi đem nó bảo tàng trong một ngôi miếu cũ ở Hán Trung, về sau nơi này bị chiến tranh phá hủy, nhục thân của sư phụ cũng bị hủy luôn trong chậm tiến độ. Thực ra, đây cũng ko mang gì phải nhớ tiếc cả, chẳng qua chỉ là 1 lớp da giết mổ mà thôi.
Sau khi sư phụ mất, tôi phải độc tu 1 mình. Đối có một người tu luyện đơn độc mà nhắc, chiếc khổ lớn nhất, chính là cô quạnh quẽ và đơn độc. có các lúc ngồi thiền 1 năm, sau khi xuất định được mấy ngày rồi lại nhập định tiếp, mười mấy năm ko thấy một bóng người, ko kể 1 lời nào là chuyện rất bình thường. Vì để giải quyết đơn chiếc buồn tẻ, tôi thích đi vân du, bắt đầu từ năm 1960, tôi vừa đi vân du vừa tiếp diễn việc tu luyện của mình.
Đợi đến măn 1988, cái năm xảy ra vụ hỏa hoạn to ở núi Đại Hưng An, tôi rốt cục đã tu luyện đến cảnh giới cao nhất trong môn của chúng tôi là "ngũ khí triều thiên". lúc này, công năng đặc dị của tôi, đã đạt tới cao độ trước nay chưa từng có, trên căn bản các công năng mà bạn từng nghe kể thì tôi đều sở hữu hết cả, hơn nữa công lực tăng trưởng, hoàn toàn ko phải là thứ mà các người có công năng đặc dị trên thế gian kia với thể so sánh được. Hơn nữa trong khoảng ngừng thi côngĐây về sau, những khi vân du, tôi có thể không còn cần phải tuân thủ pháp giới nữa, công năng đặc dị cũng có thể sự dụng tùy ý rồi, nhưng điều kiện trước tiên là không được phép can thiệp vào bất cứ sự tình nào của thiên hạ con người, dẫu cho là 1 việc nhỏ rất là vụn vặt cũng ko được, ví như không sẽ gặp phải báo ứng, hoặc công năng bị mất đi.
Từ khóa: tu luyen
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)